Chỉ đạo, điều hành nổi bật của UBND tỉnh, lãnh đạo UBND tỉnh trong tuần (từ ngày 13/7 - 18/7/2026)
Chỉ đạo triển khai đợt “Cao điểm thu nhận mẫu sinh phẩm ADN thân nhân liệt sĩ chưa xác định được thông tin trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn”; Triển khai thực hiện Nghị định số 164/2026/NĐ-CP về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; tăng cường công tác quản lý người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; thực hiện Quyết định số 1115/QĐ-TTg ngày 20/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ về nhà ở xã hội và định hướng phát triển nhà ở trong thời gian tới; chủ động ứng phó với mưa lớn, lũ, ngập lụt trên địa bàn tỉnh… là những thông tin chỉ đạo điều hành nổi bật của UBND tỉnh, lãnh đạo UBND tỉnh trong tuần (từ ngày 13/7- 18/7/2026).

Chỉ đạo triển khai đợt “Cao điểm thu nhận mẫu sinh phẩm ADN thân nhân liệt sĩ chưa xác định được thông tin trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn”
UBND tỉnh ban hành Công văn số 1831/UBND-NC ngày 13/7/2026 chỉ đạo triển khai đợt “Cao điểm thu nhận mẫu sinh phẩm ADN thân nhân liệt sĩ chưa xác định được thông tin trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn”, từ ngày 16/7/2026 đến ngày 20/7/2026.
Công an tỉnh chủ trì, phối hợp các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức triển khai thu nhận mẫu sinh phẩm ADN thân nhân liệt sĩ theo kế hoạch của Bộ Công an bảo đảm đúng đối tượng, đúng quy trình, đúng tiến độ và hoàn thành chỉ tiêu được giao; phối hợp các sở, ngành, địa phương xây dựng lịch và địa điểm tổ chức thu nhận mẫu sinh phẩm ADN thân nhân liệt sĩ; rà soát thông tin thân nhân, tổng hợp tình hình, kết quả triển khai thu nhận mẫu sinh phẩm ADN thân nhân liệt sĩ trên địa bàn tỉnh và thực hiện chế độ thông tin, báo cáo theo quy định.
Sở Nội vụ phối hợp rà soát, xác định danh sách liệt sĩ và thân nhân liệt sĩ thuộc diện thu mẫu sinh phẩm ADN, bảo đảm số liệu đầy đủ, chính xác.
UBND các xã, phường lập danh sách các thân nhân liệt sĩ đồng ý “Đăng ký thu nhận mẫu” trên hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, tổ chức đến trực tiếp gia đình thân nhân liệt sĩ để gửi giấy mời, tuyên truyền, vận động và hướng dẫn thân nhân liệt sĩ nắm được mục đích, ý nghĩa của việc thu nhận mẫu sinh phẩm ADN, tạo sự đồng thuận, tích cực tham gia thực hiện; đẩy mạnh tuyên truyền, vận động thân nhân liệt sĩ tham gia thu nhận mẫu sinh phẩm ADN, không để xảy ra trường hợp thân nhân thuộc diện thu mẫu nhưng không được thông báo hoặc không tham gia do thiếu phương tiện, thiếu hướng dẫn hoặc nguyên nhân chủ quan của địa phương.
Đề nghị Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh chủ trì phát động phong trào thi đua, tuyên truyền sâu rộng trong toàn dân về ý nghĩa quan trọng của công tác thu nhận mẫu sinh phẩm ADN thân nhân liệt sĩ chưa xác định được thông tin; tăng cường vận động các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, Nhân dân huy động nguồn lực, phát huy sức mạnh đoàn kết dân tộc cho công tác này. Báo và Phát thanh, Truyền hình Lạng Sơn đẩy mạnh công tác tuyên truyền, xây dựng tin, bài, phóng sự, video clip..., kết nối, chia sẻ các nội dung liên quan đến các thân nhân, gia đình liệt sĩ chưa xác định được thông tin trong thời gian triển khai cao điểm.
Chỉ đạo đẩy nhanh thực hiện Đề án 06, hoàn thiện cơ sở dữ liệu phục vụ chuyển đổi số
Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Công văn số 1825/UBND-NC ngày 13/7/2026 chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ về Đề án 06, xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) quốc gia và CSDL chuyên ngành.
Theo đó, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu các sở, ban, ngành, các cơ quan Trung ương trên địa bàn tỉnh và UBND các xã, phường căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao, khẩn trương rà soát toàn bộ các nhiệm vụ thuộc Đề án 06 và các nghị quyết, quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các nhiệm vụ được giao tại Công văn số 3419/BCĐCP về đôn đốc triển khai các nhiệm vụ của Đề án 06, xây dựng CSDL quốc gia, CSDL chuyên ngành; đánh giá đầy đủ kết quả thực hiện, những tồn tại, khó khăn, điểm nghẽn; xác định rõ nguyên nhân, trách nhiệm và giải pháp khắc phục; xây dựng kế hoạch, lộ trình hoàn thành đối với từng nhiệm vụ, nhất là các nhiệm vụ quá hạn, nhiệm vụ chưa hoàn thành, chậm tiến độ và các nội dung liên quan đến dữ liệu, hạ tầng, nhân lực, kinh phí, dịch vụ công, kết nối, chia sẻ dữ liệu.
Các sở, ban, ngành là cơ quan chủ quản CSDL chuyên ngành chủ trì rà soát, đẩy nhanh việc xây dựng, làm sạch, chuẩn hóa, kết nối, chia sẻ và đồng bộ dữ liệu với Trung tâm Dữ liệu quốc gia; bảo đảm dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống”, có khả năng khai thác, sử dụng hiệu quả phục vụ giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công và công tác chỉ đạo, điều hành.
Đồng thời, đổi mới phương thức báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ Đề án 06 theo hướng lượng hóa bằng số liệu; xác định rõ kết quả đầu ra, giá trị mang lại cho người dân, doanh nghiệp và cơ quan nhà nước. Rà soát hạ tầng số, nền tảng số, hệ thống thông tin, hệ thống kết nối, chia sẻ dữ liệu; bảo đảm an toàn, an ninh thông tin và các điều kiện cần thiết phục vụ triển khai chuyển đổi số theo yêu cầu của Trung ương
Chỉ đạo thực hiện Quyết định số 1115/QĐ-TTg ngày 20/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ về nhà ở xã hội và định hướng phát triển nhà ở trong thời gian tới
UBND tỉnh chỉ đạo thực hiện Quyết định số 1115/QĐ-TTg ngày 20/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ về nhà ở xã hội và định hướng phát triển nhà ở trong thời gian tới (Công văn số 1827/UBND-KTCN ngày 13/7/2026).
Thủ trưởng các sở, ban, ngành, Chủ tịch UBND các xã, phường tổ chức quán triệt, tuyên truyền, phổ biến và triển khai thực hiện các nội dung tại Quyết định số 1115/QĐ-TTg ngày 20/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Thông báo số 64-TB/VPTW ngày 22/5/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng; chủ động rà soát các chương trình, kế hoạch, đề án, dự án liên quan đến phát triển nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, nhà ở cho các đối tượng chính sách; ưu tiên phát triển nhà ở cho thuê; rà soát quỹ đất, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, chuẩn bị quỹ đất, đẩy nhanh công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng và thực hiện các giải pháp rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục về đầu tư, kịp thời tham mưu, đề xuất các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án nhà ở xã hội trên địa bàn. Đồng thời, các cơ quan, đơn vị tăng cường phối hợp trong quá trình triển khai thực hiện, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực phát triển nhà ở, bảo đảm công khai, minh bạch, đúng quy định của pháp luật.
Các sở, ngành có liên quan phối hợp với UBND các xã, phường tổ chức triển khai thực hiện Quyết định số 1115/QĐ-TTg; rà soát, cập nhật quỹ đất phát triển nhà ở xã hội gắn với quy hoạch, kế hoạch phát triển đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế, các khu vực có tốc độ đô thị hóa nhanh; kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách về nhà ở xã hội, phối hợp xác nhận đối tượng, điều kiện được hưởng chính sách, không để xảy ra tình trạng lợi dụng, trục lợi chính sách. Bên cạnh đó, tham mưu UBND tỉnh bố trí đủ quỹ đất phát triển nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, nhà ở cho thuê theo chỉ tiêu được giao và nhu cầu thực tế của địa phương, ưu tiên bố trí quỹ đất tại khu vực có nhu cầu lao động tập trung, khu công nghiệp; tham mưu bố trí nguồn lực thực hiện theo quy định, phù hợp với khả năng ngân sách địa phương theo từng thời kỳ.
UBND các xã, phường chủ động rà soát chỉ tiêu sử dụng đất đã được phân bổ tại Quyết định số 777/QĐ-UBND ngày 29/4/2026 của UBND tỉnh, xác định nhu cầu sử dụng đất phát triển nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, nhà ở cho thuê theo chỉ tiêu được giao và nhu cầu thực tế của địa phương; tăng cường công tác tuyên truyền, vận động, tạo sự đồng thuận của người dân trong quá trình triển khai các dự án nhà ở xã hội.
Các chủ đầu tư dự án bất động sản, nhà ở trên địa bàn tỉnh chủ động rà soát tình hình, tiến độ triển khai thực hiện các dự án, nghiên cứu, đề xuất phương án phát triển nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, nhà ở cho thuê phù hợp với nhu cầu thực tế và định hướng phát triển nhà ở của tỉnh. Đồng thời, thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật về nhà ở, đất đai, đầu tư, xây dựng, kinh doanh bất động sản và các quy định pháp luật có liên quan trong quá trình chuẩn bị đầu tư, triển khai thực hiện dự án, chủ động phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc.
Quy định việc xác định diện tích đất ở, các trường hợp khác chưa xác định cụ thể diện tích đất ở trên Giấy chứng nhận đã cấp để áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 20 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP
Tại Quyết định số 46/2026/QĐ-UBND ngày 16/7/2026, UBND tỉnh ban hành quy định việc xác định diện tích đất ở, các trường hợp khác chưa xác định cụ thể diện tích đất ở trên Giấy chứng nhận đã cấp để áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 20 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP ngày 31/01/2026 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai. Quyết định có hiệu lực thi hành từ ngày 27/7/2026.
Theo đó, quy định cụ thể việc xác định diện tích đất ở
1. Trường hợp sử dụng đất trước ngày 18/12/1980, người sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất đối với diện tích đất ở được xác định như sau:
a) Địa bàn phường: 500 m2/hộ gia đình, cá nhân;
b) Địa bàn xã: 2.000 m2/hộ gia đình, cá nhân.
2. Trường hợp sử dụng đất từ ngày 18/12/1980 đến trước ngày 15/10/1993 người sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất đối với diện tích đất ở được xác định như sau:
a) Địa bàn phường: 300 m2/hộ gia đình, cá nhân;
b) Địa bàn xã: 1.200 m2/hộ gia đình, cá nhân.
3. Trường hợp sử dụng đất từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004, việc xác định số cá nhân sử dụng đất tại thời điểm xác định diện tích đất ở; người sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định đối với diện tích đất ở được xác định như sau:
a) Địa bàn phường: Trường hợp thửa đất có 01 cá nhân sử dụng đất hoặc có từ 02 đến 04 cá nhân sử dụng chung quyền sử dụng đất: 100 m2. Trường hợp thửa đất có từ 05 cá nhân sử dụng chung quyền sử dụng đất trở lên: 120 m2.
b) Địa bàn xã: Trường hợp thửa đất có 01 cá nhân sử dụng đất hoặc có từ 02 đến 04 cá nhân sử dụng chung quyền sử dụng đất: 400 m2. Trường hợp thửa đất có từ 05 cá nhân sử dụng chung quyền sử dụng đất trở lên: 500 m2.
4. Thửa đất có diện tích nhỏ hơn diện tích đất ở được quy định tại các khoản 1, 2, 3 Điều này thì toàn bộ diện tích đó được xác định là đất ở. Trường hợp sau khi đã xác định diện tích đất ở, diện tích còn lại được xác định theo quy định tại khoản 4 Điều 141 Luật Đất đai năm 2024.
5. Trường hợp người sử dụng đất đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất một phần diện tích đất ở của thửa đất hoặc Nhà nước đã thu hồi một phần diện tích đất ở của thửa đất thì khi xác định diện tích đất ở phải trừ đi phần diện tích đất ở đã chuyển quyền sử dụng đất hoặc đã thu hồi.
Triển khai thực hiện Nghị định số 164/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 của Chính phủ về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị
UBND tỉnh ban hành Công văn số 1884/UBND-NC ngày 16/7/2026 chỉ đạo triển khai thực hiện Nghị định số 164/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 của Chính phủ về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Yêu cầu Thủ trưởng các sở, ban, ngành, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc UBND tỉnh, Chủ tịch UBND các xã, phường, Giám đốc các doanh nghiệp có vốn Nhà nước thuộc thẩm quyền quản lý của UBND tỉnh tổ chức phổ biến, quán triệt đầy đủ nội dung Nghị định số 164/2026/NĐ-CP; tập trung tuyên truyền các quy định mới về kê khai tài sản, thu nhập, công khai bản kê khai, xác minh tài sản, thu nhập, xây dựng kế hoạch xác minh hằng năm; thực hiện nghiêm túc quy định về kê khai, tiếp nhận, quản lý, công khai và bàn giao bản kê khai tài sản, thu nhập theo quy định; thực hiện nghiêm các quy định về bảo mật, quản lý, lưu trữ và khai thác thông tin liên quan đến kiểm soát tài sản, thu nhập.
Các sở, ngành có liên quan phối hợp rà soát, tham mưu xác định các chức danh, vị trí việc làm thuộc diện kê khai tài sản, thu nhập hằng năm theo quy định; tham mưu UBND tỉnh bố trí kinh phí bảo đảm triển khai công tác kiểm soát tài sản, thu nhập; bảo đảm hạ tầng kỹ thuật, an toàn thông tin, kết nối và chia sẻ dữ liệu phục vụ việc triển khai cơ sở dữ liệu về kiểm soát tài sản, thu nhập khi có hướng dẫn; kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng, tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng, các quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng và Nghị định số 164/2026/NĐ-CP.
Chỉ đạo tăng cường công tác quản lý người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
UBND tỉnh ban hành Công văn chỉ đạo tăng cường công tác quản lý người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (Công văn số 1818/UBND-KGVX ngày 12/7/2026).
UBND tỉnh yêu cầu: các sở, ban, ngành, tổ chức chính trị - xã hội tỉnh và UBND các xã, phường tăng cường tuyên truyền, phổ biến đến người dân, người lao động về quy định pháp luật liên quan đến hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; hướng dẫn người lao động lựa chọn các kênh thông tin chính thống, doanh nghiệp được Bộ Nội vụ cấp giấy phép hoạt động dịch vụ; không tham gia các chương trình, hợp đồng, hoạt động tuyển chọn không rõ nguồn gốc, không đúng quy định.
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chỉ đạo, phối hợp các cơ quan báo chí, truyền thông của tỉnh thường xuyên thông tin, cảnh báo các hành vi giả danh cơ quan chức năng, doanh nghiệp tuyển dụng, lừa đảo trực tuyến, quảng cáo “việc nhẹ lương cao”, giả mạo hợp đồng, thu tiền trái quy định để đưa người lao động đi làm việc tại các thị trường như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Úc, Canada và các thị trường khác.
Sở Nội vụ chủ trì, phối hợp với Công an tỉnh, UBND các xã, phường và các cơ quan liên quan theo dõi, quản lý hoạt động của các doanh nghiệp, chi nhánh doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài trên địa bàn tỉnh; kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, nhất là hành vi thu tiền cao hơn quy định, lợi dụng hoạt động chuẩn bị nguồn để thu tiền trái phép của người lao động.
Công an tỉnh chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị, địa phương tăng cường nắm tình hình, kiểm tra, phát hiện các tổ chức, cá nhân không có giấy phép hoạt động dịch vụ nhưng vẫn tổ chức tư vấn, tuyển chọn, môi giới, quảng cáo đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, nhất là trên các nền tảng mạng xã hội, hội nhóm trực tuyến; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm theo quy định pháp luật.
UBND các xã, phường tăng cường quản lý địa bàn, nắm tình hình người lao động có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài, các đơn vị có hoạt động tư vấn, tuyển chọn người lao động đi làm việc ở nước ngoài trên địa bàn; kịp thời thông tin, cảnh báo người dân không nộp tiền, ký hợp đồng với tổ chức, cá nhân không đủ điều kiện pháp lý. Đồng thời, thông tin cho gia đình, thân nhân có người lao động đang làm việc ở nước ngoài nhắc nhở người lao động tuân thủ hợp đồng, về nước đúng thời hạn; vận động người lao động đang cư trú, làm việc bất hợp pháp ở nước ngoài sớm về nước, không tiếp tục vi phạm pháp luật nước sở tại.
Quản lý chặt chẽ các chương trình hợp tác lao động giữa tỉnh Lạng Sơn và địa phương của nước tiếp nhận: Sở Nội vụ chủ trì, phối hợp Sở Ngoại vụ, Công an tỉnh, UBND các xã, phường tham mưu triển khai thực hiện Thỏa thuận hợp tác lao động đúng quy định, bảo đảm tuân thủ pháp luật của Việt Nam, phù hợp với pháp luật của nước ký kết thỏa thuận và theo hướng dẫn của Bộ Nội vụ, các bộ, ngành liên quan; kịp thời tham mưu giải quyết các vấn đề phát sinh nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, hạn chế tình trạng người lao động vi phạm hợp đồng, bỏ trốn, cư trú bất hợp pháp ở nước ngoài.
Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo chủ động ứng phó với mưa lớn, lũ, ngập lụt trên địa bàn tỉnh
Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo chủ động ứng phó với mưa lớn, lũ, ngập lụt trên địa bàn tỉnh, tại Công văn số 1901/UBND-KTCN ngày 18/7/2026.
Theo đó, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Thủ trưởng các sở, ban, ngành, Chủ tịch UBND các xã, phường và các cơ quan, đơn vị liên quan tuyệt đối không được chủ quan, lơ là; chủ động ứng phó với mọi tình huống, bảo đảm an toàn tính mạng của Nhân dân là ưu tiên hàng đầu, hạn chế thấp nhất thiệt hại về tài sản của nhà nước và Nhân dân. Tập trung nghiêm túc triển khai thực hiện các nhiệm vụ sau:
Theo dõi chặt chẽ diễn biến mưa lớn, lũ, ngập lụt, lũ quét, sạt lở đất; cập nhật, thông tin đầy đủ, kịp thời đến người dân để chủ động phòng tránh. Rà soát, cập nhật phương án ứng phó thiên tai theo từng cấp độ rủi ro; chuẩn bị đầy đủ lực lượng, phương tiện, vật tư theo phương châm “bốn tại chỗ”, không để bị động, bất ngờ. Khẩn trương rà soát các khu dân cư, hộ dân, công trình nằm trong khu vực có nguy cơ xảy ra lũ quét, sạt lở đất, ngập sâu; kiên quyết tổ chức sơ tán, di dời người dân đến nơi an toàn khi cần thiết, ưu tiên người già, trẻ em và các đối tượng yếu thế. Tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn người dân các biện pháp phòng tránh thiên tai; chủ động chuẩn bị lương thực, thực phẩm, thuốc men và các nhu yếu phẩm thiết yếu để bảo đảm đời sống trong trường hợp bị chia cắt. Bố trí lực lượng kiểm soát, cắm biển cảnh báo, hướng dẫn giao thông tại các khu vực ngầm, tràn, đường bị ngập sâu, khu vực có nguy cơ sạt lở; kiên quyết không để người và phương tiện đi qua khi không bảo đảm an toàn. Tổ chức trực ban nghiêm túc 24/24 giờ trong thời gian xảy ra mưa lớn; thường xuyên cập nhật tình hình, báo cáo UBND tỉnh và Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự tỉnh theo quy định.
Các sở, ban, ngành tỉnh theo chức năng, nhiệm vụ được giao chủ động triển khai các phương án ứng phó thiên tai; phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương xử lý kịp thời các tình huống phát sinh; tập trung thực hiện nghiêm chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tại Thông báo số 117-TB/VPTW ngày 04/7/2026, Chỉ thị số 23/CT-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ và Thông báo số 373/TB-VPCP ngày 15/7/2026 của Văn phòng Chính phủ về công tác phòng, chống thiên tai năm 2026./.
Khánh Ly (tổng hợp)



