Kế hoạch thực hiện Đề án “Đổi mới hình thức tổ chức sản xuất, gắn với chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, xây dựng thương hiệu trong lĩnh vực nông lâm nghiệp giai đoạn 2026 - 2030”
UBND tỉnh ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án “Đổi mới hình thức tổ chức sản xuất, gắn với chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, xây dựng thương hiệu trong lĩnh vực nông lâm nghiệp giai đoạn 2026 - 2030” (Kế hoạch số 309/KH-UBND ngày 06/8/2026).

Mục tiêu cụ thể: Tiếp tục duy trì, củng cố, mở rộng quy mô các chuỗi liên kết sản xuất đang hoạt động; hỗ trợ xây dựng 10 chuỗi liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông, lâm nghiệp (mỗi năm hỗ trợ từ 2 -3 chuỗi) gắn với các sản phẩm chủ lực theo Nghị quyết số 24-NQ/TU ngày 03/3/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và các sản phẩm đặc thù có lợi thế của tỉnh (hỗ trợ xây dựng mới hoặc mở rộng quy mô, lĩnh vực mới của các chuỗi liên kết sản xuất đang hoạt động). Có ít nhất 30 doanh nghiệp, Hợp tác xã tham gia các chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm; 100% chuỗi liên kết được thực hiện thông qua hợp đồng liên kết và có sản phẩm tiêu thụ ổn định trên thị trường. Củng cố, nâng cao năng lực quản lý, tổ chức sản xuất và liên kết tiêu thụ sản phẩm của các Hợp tác xã, Tổ Hợp tác (HTX, THT); thành lập mới từ 60 HTX và 40 THT (mỗi năm thành lập mới từ 12 đến 15 HTX, 08 đến 10 THT), khuyến khích các THT đủ điều kiện chuyển đổi thành HTX. Tăng tỷ lệ HTX hoạt động có hiệu quả đạt trên 55%, giảm số hợp tác xã hoạt động yếu kém, ngừng hoạt động; phấn đấu 10% HTX, THT có ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất và tiêu thụ nông sản; thực hiện truy xuất nguồn gốc đối với hàng hóa nông sản. Tổ chức đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng cho 100% cán bộ chủ chốt HTX kiến thức liên quan đến Luật HTX, quản trị kinh doanh, chuỗi liên kết.
Kế hoạch tập trung vào các giải pháp: Phát triển vùng sản xuất hàng hoá tập trung đối với các sản phẩm nông lâm nghiệp chủ lực, đặc thù, có lợi thế của địa phương; tổ chức liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm; thực hiện hiệu quả các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, trong đó, triển khai hiệu quả Nghị quyết số 24-NQ/TU ngày 03/3/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về phát triển nông, lâm nghiệp chủ lực tập trung, bền vững gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm giai đoạn 2026 – 2030, Nghị quyết số 02/2026/NQ-HĐND ngày 26/3/2026 của Hội đồng nhân dân tỉnh về một số chính sách hỗ trợ đầu tư vào nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2026-2030 và các chính sách hỗ trợ thuộc chương trình mục tiêu quốc gia; nâng cao năng lực quản lý, tổ chức sản xuất; kiểm tra, giám sát, nhân rộng các chuỗi liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm hoạt động hiệu quả, kịp thời giới thiệu các mô hình tiêu biểu, cách làm hay trên các phương tiện thông tin đại chúng và nền tảng số.
Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì tổ chức thực hiện hỗ trợ xây dựng, phát triển các chuỗi liên kết và các mục tiêu của Kế hoạch; phối hợp với các Sở, ngành liên quan và các địa phương xác định các chuỗi liên kết để hỗ trợ đảm bảo thiết thực, hiệu quả, bền vững, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất nông lâm nghiệp của tỉnh. Hướng dẫn các giải pháp chuyên môn kỹ thuật, áp dụng khoa học, công nghệ mới, tiên tiến vào sản xuất; thực hiện công tác đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm của các chuỗi liên kết; hỗ trợ các chủ thể sản xuất xây dựng thương hiệu sản phẩm; phối hợp các cơ quan liên quan thực hiện công tác xúc tiến thương mại, phát triển thị trường.
UBND các xã, phường phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường triển khai các chuỗi liên kết trên địa bàn. Chỉ đạo tổ chức sản xuất hình thành các vùng sản xuất hàng hoá tập trung, quy mô lớn; thúc đẩy các HTX, THT, hộ sản xuất liên kết với các doanh nghiệp để hỗ trợ xây dựng các chuỗi liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm phù hợp trên địa bàn; chỉ đạo việc tuân thủ, chấp hành pháp luật của các chủ thể tại địa phương trong tham gia thực hiện các chuỗi liên kết. Huy động, lồng ghép các nguồn lực của địa phương để thúc đẩy phát triển sản xuất nông lâm nghiệp nhằm duy trì ổn định, ngày càng phát triển của các chuỗi liên kết, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và kinh tế nông nghiệp trên địa bàn./.
Bích Diệp



