Chỉ đạo, điều hành nổi bật của UBND tỉnh, lãnh đạo UBND tỉnh trong tuần (từ ngày 28/9/2026 - 04/10/2026)
Chỉ đạo, điều hành nổi bật của UBND tỉnh, lãnh đạo UBND tỉnh trong tuần (từ ngày 28/9/2026 - 04/10/2026)
Tăng cường quản lý, điều hành và bình ổn giá trên địa bàn tỉnh; Chỉ đạo tập trung thực hiện các nhiệm vụ đối với Dự án cao tốc Hữu Nghị - Chi Lăng và Đồng Đăng - Trà Lĩnh; Tăng cường công tác chống buôn lậu thuốc lá trong tình hình mới; Triển khai thực hiện kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước về thực hiện chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ người yếu thế; Triển khai thực hiện Nghị quyết số 303/NQ-CP ngày 30/9/2026 của Chính phủ về việc giao chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê cho các địa phương giai đoạn 2026 – 2030; Chỉ đạo triển khai công tác đánh giá, xếp loại theo Nghị định số 233/2026/NĐ-CP ngày 26/6/2026 của Chính phủ;… là những thông tin chỉ đạo điều hành nổi bật của UBND tỉnh, lãnh đạo UBND tỉnh trong tuần (từ ngày 28/9/2026 - 04/10/2026).

Ảnh minh họa
1. Tăng cường quản lý, điều hành và bình ổn giá trên địa bàn tỉnh
Nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, bảo đảm thị trường hàng hóa vận hành ổn định và hạn chế những tác động bất thường đến đời sống người dân, UBND tỉnh Lạng Sơn yêu cầu các sở, ban, ngành và địa phương tăng cường công tác quản lý, điều hành giá trên địa bàn.
Nội dung trên được UBND tỉnh triển khai tại Công văn số 2750/UBND-KTTH ngày 01/10/2026, thực hiện Thông báo số 480/TB-VPCP ngày 12/9/2026 của Văn phòng Chính phủ về kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng, Trưởng Ban Chỉ đạo điều hành giá, tại cuộc họp về kết quả công tác quản lý, điều hành giá 8 tháng đầu năm 2026.
Theo đó, các cơ quan, đơn vị tiếp tục thực hiện nghiêm các nhiệm vụ UBND tỉnh đã giao về tăng cường quản lý giá, triển khai thi hành Luật Giá và các văn bản hướng dẫn. Đồng thời, tăng cường theo dõi diễn biến giá các mặt hàng thiết yếu, nhất là những nhóm hàng tác động đến đời sống nhân dân và chỉ số giá tiêu dùng; yêu cầu doanh nghiệp thực hiện đúng quy định về kê khai, niêm yết, công khai giá và rà soát cơ cấu chi phí để điều chỉnh giá phù hợp.
UBND tỉnh cũng yêu cầu chủ động phương án bảo đảm nguồn cung hàng hóa thiết yếu trong mùa mưa bão, thiên tai và tình huống khẩn cấp; tăng cường thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giá, xử lý nghiêm các hành vi đầu cơ, găm hàng, thao túng giá, lợi dụng biến động thị trường để trục lợi. Sở Công Thương chỉ đạo các doanh nghiệp đầu mối chủ động dự trữ xăng dầu, bảo đảm khả năng điều tiết khi thị trường có biến động hoặc gián đoạn nguồn cung.
Bên cạnh đó, Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp rà soát, tham mưu thực hiện các chính sách hỗ trợ học sinh; tăng cường quản lý, công khai các khoản thu, chi trong trường học. Sở Tài chính theo dõi sát cung cầu, giá cả, tham mưu các chương trình bình ổn thị trường, kịp thời xử lý các hiện tượng tăng giá bất thường và tổng hợp kết quả thực hiện, báo cáo UBND tỉnh theo quy định.
2. Chỉ đạo tập trung thực hiện các nhiệm vụ đối với Dự án cao tốc Hữu Nghị - Chi Lăng và Đồng Đăng - Trà Lĩnh
Thực hiện Thông báo số 497/TB-VPCP ngày 24/9/2026 và Thông báo số 506/TB-VPCP ngày 29/9/2026 của Văn phòng Chính phủ, đồng chí Đinh Hữu Học, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh chỉ đạo tập trung thực hiện các nhiệm vụ đối với Dự án cao tốc Hữu Nghị - Chi Lăng và Đồng Đăng - Trà Lĩnh (Công văn số 9092/VP-KTCN ngày 30/9/2026).
Các sở, ngành, cơ quan, đơn vị, UBND các xã, phường liên quan tiếp tục thực hiện nghiêm, quyết liệt, đầy đủ các nhiệm vụ đã được UBND tỉnh, Lãnh đạo UBND tỉnh giao, nhất là tại Thông báo số 773/TB-VP ngày 24/9/2026 của Văn phòng UBND tỉnh; xác định việc hoàn thành Dự án cao tốc Hữu Nghị - Chi Lăng trong năm 2026 là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách, tập trung cao nhất nguồn lực, chủ động giải quyết ngay các khó khăn, vướng mắc thuộc thẩm quyền, không né tránh, đùn đẩy, không để ảnh hưởng đến tiến độ chung của các dự án.
Về công tác giải phóng mặt bằng (GPMB): Đối với Dự án cao tốc Hữu Nghị - Chi Lăng, Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh, UBND các xã, phường liên quan tiếp tục tập trung xử lý dứt điểm toàn bộ các vị trí còn tồn tại, bao gồm đường gom, đường ngang dân sinh, nhà ở, di dời hạ tầng kỹ thuật, trạm dừng nghỉ, khu tái định cư và các hạng mục liên quan; hoàn thành, bàn giao toàn bộ mặt bằng chậm nhất ngày 31/10/2026; đối với các trường hợp đã đủ điều kiện pháp lý nhưng không chấp hành, khẩn trương hoàn thiện hồ sơ, tổ chức cưỡng chế thu hồi đất, bảo vệ thi công theo đúng quy định. Đối với Dự án cao tốc Đồng Đăng - Trà Lĩnh, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng tỉnh, Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh và UBND các xã liên quan khẩn trương hoàn thành các thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, GPMB giai đoạn 2, bảo đảm bàn giao toàn bộ mặt bằng trong tháng 10/2026, chủ động phối hợp giải quyết ngay các khó khăn, vướng mắc phát sinh.
Riêng đối với Dự án cao tốc Hữu Nghị - Chi Lăng, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng tỉnh tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện Hợp đồng BOT; thúc đẩy giải ngân, bám sát tiến độ tổng thể, kiểm soát tiến độ từng gói thầu, hạng mục, việc huy động nhân lực, máy móc, thiết bị, vật liệu và giải ngân; kịp thời yêu cầu nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án khắc phục ngay các nội dung chậm tiến độ, báo cáo UBND tỉnh các vấn đề vượt thẩm quyền hoặc có nguy cơ ảnh hưởng mục tiêu hoàn thành Dự án trong năm 2026. Nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án tập trung tối đa nguồn lực, chỉ đạo các nhà thầu tổ chức thi công 3 ca, 4 kíp, tăng mũi thi công, mặt bằng được bàn giao đến đâu tổ chức thi công ngay đến đó, tuân thủ đầy đủ quy trình, tiêu chuẩn kỹ thuật, bảo đảm chất lượng, an toàn và vệ sinh môi trường, không vì tiến độ mà bỏ qua chất lượng.
Các sở, ngành có liên quan hướng dẫn các chủ mỏ thực hiện trình tự, thủ tục nâng công suất, bảo đảm và ưu tiên nguồn vật liệu phục vụ 02 dự án trong giai đoạn cao điểm từ nay đến hết năm 2026 theo đúng quy định; tăng cường theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện, đồng thời chủ động rà soát phương án tổ chức giao thông, các điều kiện bảo đảm an toàn khai thác đối với 02 tuyến cao tốc theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ.
3. Tăng cường công tác chống buôn lậu thuốc lá trong tình hình mới
Ban Chỉ đạo (BCĐ) 389 tỉnh ban hành Công văn số 14/BCĐ-CQTT ngày 30/9/2026 yêu cầu các sở, ngành thành viên BCĐ 389 tỉnh và BCĐ 389 các xã, phường tăng cường công tác chống buôn lậu thuốc lá trong tình hình mới.
Theo đó, các sở, ngành thành viên BCĐ 389 tỉnh tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm Chỉ thị số 25/CT-TTg ngày 09/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ, Kế hoạch số 257/KH-UBND ngày 01/7/2026 của UBND tỉnh; chủ động triển khai các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi phạm, tăng cường phối hợp, trao đổi, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan, đơn vị; đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật, nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của tổ chức, cá nhân.
Trong đó, tập trung thực hiện các nội dung trọng tâm như: tăng cường kiểm soát, phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi buôn lậu, vận chuyển, sản xuất, mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc lá, thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng, tập trung vào các tuyến, địa bàn, đối tượng trọng điểm và phương thức, thủ đoạn mới; chú trọng đấu tranh với các vụ việc có tổ chức, số lượng lớn, liên tỉnh, xuyên biên giới; phối hợp thực hiện các nội dung liên quan đến quản lý, kiểm soát và xử lý vi phạm về thuốc lá, thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng; tăng cường quản lý thuế, hóa đơn, chứng từ theo quy định, phối hợp cung cấp, xác minh thông tin liên quan đến tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh thuốc lá phục vụ công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm.
BCĐ 389 các xã, phường chủ động nắm tình hình, quản lý địa bàn, nhất là khu vực biên giới, tuyến giao thông, chợ, cơ sở kinh doanh, kho, bãi, địa điểm tập kết hàng hóa; phối hợp với các lực lượng chức năng phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi buôn lậu, vận chuyển, mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc lá, thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng trên địa bàn; đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền, vận động Nhân dân chấp hành pháp luật, không tham gia, tiếp tay, bao che cho hoạt động buôn lậu thuốc lá.
Khi phát hiện, bắt giữ vụ việc buôn lậu, vận chuyển, sản xuất, mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc lá, thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng có số lượng lớn, phức tạp, có tổ chức, liên tỉnh, xuyên biên giới hoặc có tính chất nổi cộm, các cơ quan, đơn vị, địa phương kịp thời báo cáo về Cơ quan Thường trực BCĐ 389 tỉnh để tổng hợp, báo cáo Văn phòng Thường trực BCĐ 389 quốc gia theo quy định.
4. Triển khai thực hiện kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước về thực hiện chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ người yếu thế
UBND tỉnh chỉ đạo triển khai thực hiện kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tại buổi làm việc với Đảng ủy Chính phủ và các cơ quan về tình hình thực hiện chính sách an sinh xã hội (ASXH), hỗ trợ người yếu thế (Công văn số 2726/UBND-KGVX ngày 29/9/2026).
Sở Y tế chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan xây dựng kế hoạch hành động cụ thể thực hiện Thông báo số 159-TB/VPTW; theo dõi, hướng dẫn, đôn đốc việc thực hiện các nội dung về ASXH, trợ giúp xã hội và hỗ trợ người yếu thế thuộc phạm vi quản lý của ngành. Đồng thời, hướng dẫn UBND các xã, phường rà soát, quản lý, cập nhật thông tin đối tượng thuộc lĩnh vực trợ giúp xã hội; tăng cường kiểm tra việc thực hiện chính sách tại cơ sở, bảo đảm các đối tượng đủ điều kiện được tiếp cận chính sách đầy đủ, kịp thời theo quy định.
Sở Nội vụ triển khai các giải pháp phát triển thị trường lao động; thông tin, tuyên truyền về ý nghĩa, tầm quan trọng của chính sách bảo hiểm xã hội; tăng cường tư vấn, giới thiệu việc làm; gắn chính sách việc làm, thu nhập với bảo đảm an sinh xã hội lâu dài. Sở Tài chính phối hợp rà soát nhu cầu, tham mưu cấp có thẩm quyền bố trí kinh phí thực hiện các nhiệm vụ về ASXH, trợ giúp xã hội, hỗ trợ người yếu thế theo quy định.
Các sở, ban, ngành liên quan chủ động tổ chức thực hiện các nội dung thuộc trách nhiệm của ngành, lĩnh vực, hướng dẫn, hỗ trợ UBND các xã, phường trong quá trình thực hiện chính sách ASXH, hỗ trợ người yếu thế; đối với trường hợp khó khăn, phức tạp, chủ động phối hợp xem xét, giải quyết theo thẩm quyền hoặc báo cáo, đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét; không để chậm trễ, kéo dài, đùn đẩy trách nhiệm.
UBND các xã, phường chủ động rà soát lực lượng lao động, tình trạng việc làm, thu nhập, nhu cầu tìm việc của người dân trên địa bàn, đặc biệt quan tâm lao động phi chính thức, người mất việc làm, người có thu nhập thấp và các nhóm yếu thế; kết nối tín dụng, hỗ trợ sinh kế; kịp thời phát hiện người có hoàn cảnh khó khăn cần được hỗ trợ; đảm bảo hoàn thành chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội hàng năm. Đối với mỗi trường hợp khó khăn, phức tạp phải hướng dẫn người dân, xác định nội dung cần giải quyết, theo dõi, đôn đốc tiến độ và thông tin kết quả giải quyết cho người dân; không để người dân phải tự mình liên hệ, đi lại qua nhiều cơ quan để giải quyết một vụ việc, không để xảy ra tình trạng đùn đẩy, né tránh. Bên cạnh đó, phân công cán bộ, công chức hoặc bộ phận làm đầu mối tham mưu, tổ chức thực hiện công tác ASXH, xây dựng kế hoạch hành động hằng năm về công tác ASXH, hỗ trợ người yếu thế trên địa bàn.
Chủ tịch UBND xã, phường chịu trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra việc tổ chức thực hiện, bảo đảm công tác rà soát, phát hiện, hỗ trợ người yếu thế được thực hiện thường xuyên, kịp thời; trực tiếp chỉ đạo giải quyết các trường hợp khó khăn, phức tạp thuộc thẩm quyền và chịu trách nhiệm về việc để xảy ra tình trạng bỏ sót đối tượng, giải quyết chậm, kéo dài hoặc đùn đẩy trách nhiệm; chủ động bố trí ngân sách để thực hiện các nhiệm vụ về ASXH, trợ giúp xã hội, hỗ trợ người yếu thế thuộc trách nhiệm của ngân sách cấp xã.
5. Triển khai thực hiện Nghị quyết số 303/NQ-CP ngày 30/9/2026 của Chính phủ về việc giao chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê cho các địa phương giai đoạn 2026 – 2030
Thực hiện Nghị quyết số 303/NQ-CP ngày 30/9/2026 của Chính phủ về việc giao chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê cho các địa phương giai đoạn 2026 – 2030; đồng chí Đinh Hữu Học, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh chỉ đạo giao Sở Xây dựng chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tham mưu, triển khai các nội dung thuộc thẩm quyền của địa phương được giao tại Nghị quyết số 303/NQ-CP ngày 30/9/2026 của Chính phủ; báo cáo đề xuất UBND tỉnh trước ngày 15/10/2026 (Công văn 9253/VP-KTCN ngày 04/10/2026).
6. Chỉ đạo triển khai công tác đánh giá, xếp loại theo Nghị định số 233/2026/NĐ-CP ngày 26/6/2026 của Chính phủ
Thực hiện Nghị định số 233/2026/NĐ-CP ngày 26/6/2026 của Chính phủ quy định về đánh giá, xếp loại chất lượng đối với đơn vị sự nghiệp công lập và viên chức (Nghị định số 233/2026/NĐ-CP); UBND tỉnh ban hành Công văn chỉ đạo triển khai công tác đánh giá, xếp loại theo Nghị định số 233/2026/NĐ-CP ngày 26/6/2026 của Chính phủ (Công văn số 2768/UBND-NC ngày 03/10/2026).
UBND tỉnh yêu cầu: các sở, ban, ngành, đơn vị sự nghiệp trực thuộc UBND tỉnh và UBND các xã, phường, theo chức năng, nhiệm vụ và phạm vi quản lý, tổ chức thực hiện phổ biến, quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, kịp thời các quy định tại Nghị định số 233/2026/NĐ-CP. Xây dựng, ban hành hoặc chỉ đạo các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý xây dựng, ban hành Quy chế đánh giá, xếp loại chất lượng đơn vị sự nghiệp công lập và viên chức theo quy định tại Nghị định số 233/2026/NĐ-CP và hướng dẫn của bộ quản lý ngành, lĩnh vực (nếu có), hoàn thành trước ngày 30/11/2026. Tổ chức theo dõi, đánh giá viên chức theo tháng hoặc theo quý; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện tại các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý.
Giao Sở Nội vụ: đôn đốc, hướng dẫn, kiểm tra các cơ quan, đơn vị, địa phương tổ chức triển khai thực hiện Nghị định số 233/2026/NĐ-CP; chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị nghiên cứu, tham mưu UBND tỉnh giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin, phần mềm phục vụ việc theo dõi, đánh giá viên chức hoặc phân cấp, ủy quyền cho cơ quan, đơn vị, địa phương có đủ năng lực, điều kiện thực hiện đánh giá viên chức, bảo đảm đồng bộ, thống nhất với phần mềm theo dõi, đánh giá công chức. Thực hiện cập nhật, đồng bộ kết quả theo dõi, đánh giá và xếp loại chất lượng viên chức vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức chậm nhất 05 ngày sau khi có kết quả.
UBND tỉnh yêu cầu các sở, ban, ngành, đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc và UBND các xã, phường nghiêm túc triển khai thực hiện.



