Skip to main content

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN TỈNH LẠNG SƠN

 

Vị trí địa lý: Lạng Sơn là tỉnh miền núi, biên giới phía Đông Bắc của Việt Nam; cách thủ đô Hà Nội 154 km đường bộ và 165 km đường sắt; phía Bắc giáp tỉnh Cao Bằng, phía Đông Bắc giáp Trung Quốc, phía Đông Nam giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Nam giáp tỉnh Bắc Giang, phía Tây Nam giáp tỉnh Thái Nguyên, phía Tây giáp tỉnh Bắc Kạn. Theo chiều Bắc - Nam từ 22o27’- 21o19’ vĩ bắc, chiều Đông - Tây 106o06 - 107021’ kinh đông. Lạng Sơn có đường biên giới tiếp giáp với Trung Quốc dài 231,74 km, có 2 cửa khẩu quốc tế (cửa khẩu đường bộ Hữu Nghị, đường sắt Đồng Đăng), 01 cửa khẩu chính (Chi Ma) và 9 cửa khẩu phụ.

Địa hình: Địa hình Lạng Sơn phổ biến là núi thấp và đồi, ít núi trung bình và không có núi cao. Độ cao trung bình là 252m so với mực nước biển, nơi thấp nhất là 20m ở phía Nam huyện Hữu Lũng, trên thung lũng sông Thương; nơi cao nhất là đỉnh Phia Mè (thuộc khối núi Mẫu Sơn) cao 1.541m so với mặt biển. Hướng địa hình rất đa dạng và phức tạp: Hướng Tây Bắc - Đông Nam thể hiện ở máng trũng Thất Khê - Lộc Bình, trên đó có thung lũng các sông Bắc Khê, Kỳ Cùng và Tiên Yên (Quảng Ninh) và dãy hồ Đệ Tam đã được lấp đầy trầm tích Đệ Tam và Đệ Tứ, tạo thành các đồng bằng giữa núi có giá trị đối với ngành nông nghiệp của tỉnh như: Thất Khê, Na Dương, Bản Ngà; hướng Đông Bắc - Tây Nam thể hiện ở hướng núi thuộc các huyện Hữu Lũng, Bắc Sơn, Chi Lăng, Văn Quan và phần lớn huyện Văn Lãng, hướng này cũng thấy ở núi đồi huyện Cao Lộc (các xã Lộc Yên, Thanh Lòa và Thạch Đạn); hướng Bắc - Nam thể hiện ở hướng núi thuộc các huyện Tràng Định, Bình Gia và phần phía Tây huyện Văn Lãng; hướng Tây - Đông thể hiện ở hướng của quần sơn Mẫu Sơn với khoảng 80 ngọn núi.

Đất đai: Lạng Sơn có diện tích tự nhiên là 831.009 ha, trong đó: Đất sản xuất nông nghiệp là 111.027 ha chiếm 13,36%; đất lâm nghiệp có rừng là 574.336 ha chiếm 69,11%; đất chuyên dùng là 29.237 ha, chiếm 3,52%; đất ở là 8.138 ha, chiếm 0,98%; đất chưa sử dụng và các loại đất khác là 108.271 ha chiếm 13,03%. Đất đai Lạng Sơn được chia thành 7 vùng với 16 tiểu vùng địa lý thổ nhưỡng gồm 43 loại đất khác nhau phù hợp với nhiều loại cây trồng khác nhau.

Khoáng sản: Trong địa phận tỉnh Lạng Sơn, nhóm khoáng sản kim loại gồm có kim loại đen (sắt, măng gan), kim loại màu (nhôm, péc mi sớm, quặng bô xít, quặng alít, đồng, chì, kẽm, đa kim), kim loại quý (vàng) và kim loại hiếm (thiếc, môlípđen, vananđi, thủy ngân); khoáng sản phi kim loại gồm có khoáng sản nhiên liệu (than nâu, than bùn); khoáng sản dùng làm nguyên liệu áp quang và áp điện (thạch anh kỹ thuật); khoáng sản dùng làm nguyên liệu và phân bón; khoáng sản dùng làm vật liệu xây dựng.

Khí hậu: Lạng Sơn mang tính điển hình của khí hậu miền Bắc Việt Nam là khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình từ 17 - 220C, có tháng lạnh nhất có thể giảm xuống 5C, có lúc 0C  hoặc dưới 00 C. Nằm ở phần cực bắc của đới vĩ độ thấp gần giáp chí tuyến bắc, giữa các vĩ độ 21­019’ và 22027’ vĩ bắc, và giữa 10606’ và 107021’ kinh đông nên Lạng Sơn có nguồn bức xạ phong phú, cho phép các loại cây trồng vật nuôi bốn mùa sinh sôi nảy nở; tuy nhiên Lạng Sơn lại nằm ở cửa ngõ đón gió mùa mùa đông, nơi có gió mùa cực đới đến sớm nhất và kết thúc muộn nhất ở miền Bắc nước ta nên có mùa đông lạnh.

Độ ẩm trung bình năm của không khí ở Lạng Sơn phổ biến là từ 80 - 85%, thấp hơn nhiều vùng khác ở nước ta. Ít có sự chênh lệch về độ ẩm tương đối giữa các vùng và giữa các độ cao trong tỉnh.

Lượng mưa: Lạng Sơn nằm ở khu vực Đông Bắc, ít mưa của vùng khí hậu miền Bắc; lượng mưa trung bình năm là 1.200 - 1.600 mm. Nơi duy nhất có lượng mưa trên 1.600mm là vùng núi cao Mẫu Sơn (2.589mm), tại Lạng Sơn có Na Sầm (1.118 mm) và Đồng Đăng (1.100mm) là những trung tâm khô hạn của miền Bắc.

Sông ngòi: Chịu chi phối của khí hậu nhiệt đới gió mùa, lại nằm trong vùng đất dốc thuộc khu vực miền núi Đông Bắc, Lạng Sơn có mạng lưới sông ngòi khá phong phú. Mật độ mạng lưới sông ở đây dao động trung bình từ 0,6 đến 1,2 km/km2. So với mật độ sông suối trung bình của cả nước là 0,6 km/km2 thì mật độ sông suối của Lạng Sơn thuộc loại từ trung bình đến khá dày. Lạng Sơn có 5 sông chính độc lập, đó là sông Kỳ Cùng, Sông Thương, Sông Lục Nam, sông Tiên Yên - Ba Chẽ (hay Nậm Luổi - Đồng Quy) và sông Nà Lang./.

 

(Nguồn: Địa chí Lạng Sơn)

 

 

ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH LẠNG SƠN

 

A. Điều kiện kinh tế

Dân số, lao động - việc làm: Theo số liệu thống kê năm 2017, dân số của tỉnh Lạng Sơn khoảng 778,4 nghìn người. Trong đó nam là 390,2 nghìn người, chiếm 50,12% tổng dân số cả tỉnh; nữ là 388,2 nghìn người chiếm 49,88%. Dân số khu vực thành thị 154,2 nghìn người chiếm 19,81% tổng dân số; dân số khu vực nông thôn 624,2 nghìn người chiếm 80,19%. 

Cơ cấu dân số tỉnh Lạng Sơn trẻ, nguồn lao động khá dồi dào. Năm 2017, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 510,5 nghìn người, chiếm 65,58% tổng dân số; trong đó: Lao động nam chiếm 51,66%, nữ chiếm  48,34%; lao động thành thị chiếm 17,46%, nông thôn chiếm 82,54%.

Bình quân mỗi năm đào tạo nghề cho khoảng 5.700 lao động, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, tăng năng suất lao động và thu nhập cho người dân. Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2017 là 47,6%.

Giao thông vận tải: Lạng Sơn có mạng lưới giao thông phân bố tương đối đều có thể sử dụng cả đường sắt, đường bộ và đường thủy.

- Đường sắt liên vận quốc tế từ Hà Nội đến Đồng Đăng - Lạng Sơn và cửa khẩu biên giới Việt Trung với chiều dài 165 km là một trong những lợi thế của Lạng Sơn.

- Đường bộ Lạng Sơn phân bố khá đều trên địa bàn tỉnh với tổng chiều dài là 2.828 km, mật độ 0,35km/km2, trong đó có các quốc lộ: 1A (nối Lạng Sơn – Hà Nội dài 154 km); 1B (Đồng Đăng - Thái Nguyên dài 105 km, chạy qua các huyện Văn Quan, Bình Gia, Bắc Sơn, nối tiếp với Bắc Kạn và thành phố Thái Nguyên), 4A (Lạng Sơn - Cao Bằng dài 66 km qua các huyện Văn Lãng, Tràng Định nối với Cao Bằng); 4B (Lạng Sơn - Quảng Ninh dài 80 km qua huyện biên giới Đình Lập, Lộc Bình); Quốc lộ 31 (Đình Lập - Bắc Giang dài 61 km); Quốc lộ 279 (Bình Gia - Thái Nguyên dài 55 km). Các đường tỉnh lộ dài 1.350 km và đường huyện dài 974 km. Đường bộ Lạng Sơn đã tới được tất cả các thị trấn huyện lỵ, cửa khẩu, chợ biên giới và 226 xã, phường của tỉnh. Năm 2017, vận tải hành khách đạt 12,5 triệu lượt khách và 393 triệu khách luân chuyển, vận chuyển hàng hóa đạt 8,4 triệu tấn hàng hóa và 303,6 triệu tấn hàng hóa luân chuyển, doanh thu ngành vận tải đạt 1.479 tỷ đồng. Hiện đang xây dựng tuyến cao tốc nối Bắc Giang với cửa khẩu Hữu Nghị, tỉnh Lạng Sơn, dự kiến hoàn thành vào năm 2020 sẽ tạo thuận lợi cho hoạt động vận tải của tỉnh và cả nước qua địa bàn tỉnh.

- Đường thủy: Một số đoạn của sông Kỳ Cùng, từ khu vực huyện Lộc Bình qua thành phố tới huyện Văn Lãng và Tràng Định. Khối lượng vận chuyển hàng hóa còn nhỏ.

Thủy lợi và cấp nước: Thủy lợi ở Lạng Sơn là một trong những ngành sớm được quan tâm và đầu tư khá nhiều vốn để phát triển các công trình phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân. Tổng số 3.390 công trình đã xây dựng, trong đó có 34 công trình hồ đập nước lớn từ 100 ha trở lên. Các công trình thuỷ lợi đã phục vụ tưới cho lúa xuân hơn 15.000 ha, lúa vụ mùa gần 27.000 ha và đã góp phần tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, từng bước đáp ứng được yêu cầu phục vụ đa mục tiêu: Tưới cho lúa, hoa màu, cây ăn quả, cây công nghiệp, cấp nước cho nuôi trồng thuỷ sản, sinh hoạt, công nghiệp.

Hệ thống điện: Lạng Sơn là một trong những tỉnh miền núi có cố gắng vượt bậc trong việc kéo lưới điện quốc gia tới tất cả 11 huyện, thành phố trong tỉnh, tới các cửa khẩu và chợ đường biên. Đến nay Lạng Sơn đã có hệ thống lưới điện phân bố rộng khắp và tương đối đồng bộ từ 110KV đến 35KV và 10 KV. Tổng đường dây trung áp là 2.586 km, đường dây hạ áp là 5.190 km; hiện có 1.223 trạm biến áp phân phối với tổng dung lượng điện 226.001 KVA; tỷ lệ thôn có điện đạt 96,9% (còn 67 thôn chưa có điện). Sản lượng điện thương phẩm tăng nhanh qua từng năm.

Mạng lưới thông tin liên lạc: Mạng lưới thông tin liên lạc là một trong những lĩnh vực sớm được đầu tư, đổi mới với tốc độ phát triển nhanh, đồng bộ và hiện đại. Mạng bưu cục của tỉnh được tổ chức chặt chẽ, nên công văn, thư tín, điện tín hàng ngày vẫn đến tận các bản làng vùng cao. Hệ thống phát thanh, truyền hình được đầu tư xây dựng.

Mạng viễn thông tin kỹ thuật số hiện đại được kết nối bằng cáp quang, truyền viba tới 11/11 huyện, thành phố, 100% số xã. Toàn tỉnh có 2.210 trạm BTS (1.715 trạm phát 2G, 3G; 495 trạm phát 4G), 100% số xã có sóng di động 2G và 100% thị trấn, thành phố có sóng di động 3G. Hiện nay các doanh nghiệp viễn thông tăng cường đầu tư, nâng cao chất lượng dịch vụ trọng điểm vào hạ tầng mạng 4G, dịch vụ Truyền hình Internet. Mạng viễn thông tin kỹ thuật số hiện đại được kết nối bằng cáp quang, truyền viba tới 11/11 huyện, thành phố, 100% số xã; có tổng số 844.000 thuê bao điện thoại, trong đó 784.000 thuê bao di động, 60.000 thuê bao cố định. Thuê bao Internet đạt khoảng 90.000 thuê bao các loại.

Dịch vụ bưu chính cơ bản bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt, chuyển phát kịp thời theo yêu cầu báo chí, bưu phẩm, bưu kiện, thư, điện tín, điện hoa, chuyển tiền... Toàn tỉnh hiện có 234 điểm phục vụ, bán kính phục vụ bình quân là 3,40 km/điểm phục vụ và dân số phục vụ bình quân là 3.301 dân/điểm phục vụ; trong đó có 36 bưu cục, 135 điểm bưu điện văn hoá xã, 62 thùng thư công cộng độc lập, 01 ki ốt. Có tổng số 214/226 xã, phường, thị trấn có báo đến trong ngày phát hành. Mạng đường thư trong nước và quốc tế ngày càng được củng cố và hoàn thiện.

Các công trình phục vụ dân sinh: Các công sở ở khu vực thành phố, thị trấn, huyện lỵ được đầu tư xây dựng cùng với việc sửa sang, quy hoạch hệ thống đường sá, cấp thoát nước... Hệ thống trường học, bệnh viện, công viên, các khu vui chơi, giải trí công cộng được đầu tư xây dựng mới và cải tạo, nâng cấp.

B. Điều kiện xã hội - văn hóa

Dân tộc: Giống như các tỉnh miền núi phía Bắc, Lạng Sơn là tỉnh có các dân tộc ít người chiếm số đông (84,74% tổng số dân của tỉnh). Là nơi chung sống của nhiều dân tộc anh em, trong đó người Nùng chiếm 42,8%, người Tày chiếm 35,4%, người Kinh chiếm 17,11%, người Dao chiếm 3,5%, dân tộc Hoa, Sán Chay, Mông và các dân tộc khác chiếm  khoảng 1,19%.

Giáo dục: Hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị ngành giáo dục và đào tạo được quan tâm đầu tư hoàn chỉnh từ giáo dục mầm non đến phổ thông trung học, từ giáo dục từ xa đến trung học chuyên nghiệp, hướng nghiệp dạy nghề, tiểu học bán trú đến phổ thông dân tộc nội trú; từ trường công lập, dân lập đến trường tư thục... Năm 2017 có tổng số 231 trường, 2.225 lớp/nhóm trẻ, 1.482 phòng học mầm non; 232 trường tiểu học, 193 trường trung học cơ sở, 27 trường trung học phổ thông, 35 trường phổ thông cơ sở.

Duy trì vững chắc kết quả 100% số xã đạt chuẩn phổ cập tiểu học - xóa mù chữ; phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi; duy trì, củng cố và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục THCS của 226/226 xã/ phường. Công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia được quan tâm, đã có 183 trường chuẩn quốc gia. Năm học 2017 - 2018 có 130.501 học sinh phổ thông, có 10.459 giáo viên phổ thông.

Các trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và trường dạy nghề trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn vẫn tiếp tục công tác tuyển sinh. Các trường được duy trì củng cố và phát triển, chất lượng đào tạo, đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy và học, ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Y tế và chăm sóc sức khỏe dân cư: Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều chuyển biến tích cực. Toàn tỉnh có 88/226 xã, phường, thị trấn đạt tiêu chuẩn quốc gia về y tế xã, đạt 38,9%; có 28,3 giường bệnh/vạn dân và 10,5 bác sỹ/vạn dân.

Thể thao: Lạng Sơn có môn võ múa sư tử cổ truyền trong hội lồng tồng của đồng bào Tày, Nùng. Ngoài ra, còn có môn bắn nỏ, kéo co, đánh yến (tức din, diến), ném còn, đánh khăng... các môn thể thao hiện đại như: Bóng đá, bóng bàn, cầu lông, bóng chuyền... cũng khá phát triển. Mạng lưới trung tâm thể dục thể thao đã được mở rộng đến tận các huyện, thị, xã, phường, cơ quan, xí nghiệp, công nông trường... đáp ứng ngày càng tốt nhu cầu thể thao của nhân dân trên địa bàn tỉnh.

Nghề thủ công mỹ nghệ: Nghề trồng bông, dệt vải và thổ cẩm; nghề làm cao khô, làm ngói (âm dương). Bên cạnh đó cong nghiều nghề thủ công truyền thống như: Đan lát, rèn, làm hương… vẫn được nhân dân duy trì.

Văn học nghệ thuật: Một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu như: Trần Khâm (1258 - 1308) tức vua Trần Nhân Tông với bài “Lạng Châu vãn cảnh”, Phạm Sư Mạnh với bài “Đường đi Lạng Sơn” (Lạng Sơn đạo trung), Nguyễn Nghiễm (1668 - 1775) soạn tập sách Lạng Sơn Đoàn thành đồ, Lê Quý Đôn (1726 - 1784) bài thơ “Núi chị em”, Ngô Thì Nhậm (1746 - 1803) với bài “Đường qua Lạng Sơn”, Phan Huy Ích (1750 - 1822) với bài thơ “Cảnh thấy trên đường Lạng Sơn”, Nguyễn Du (1766- 1820) tác giả Truyện Kiều đã viết bài thơ “Đường qua Lạng Sơn”, Ngô Thì Hương (1774 - 1821),... Hai tác giả nổi bật nhất là Ngô Thì Sỹ (1726 - 1780) với nhiều bài thơ vịnh trên đá như: Diễn trận sơn, Động Tam Thanh; tác giả Nguyễn Tông Khuê (1693 - 1767) với bài “Cảnh sắc Lạng Sơn”, tập “Sứ trình tân truyện” dài 1670 câu lục bát chữ Nôm.

Nghệ thuật dân gian: Tranh dân gian, tranh thờ của các dân tộc; các trò diễn và không gian nghệ thuật truyền thống: Lễ xiên đàn phá ngục ở các đám tang, trõ sỹ nông, trò Ngô, hội nàng Hai, Diễn xướng then,...

Lạng Sơn - Vùng danh lam thắng cảnh: Những điều kiện thiên nhiên ưu đãi đã tạo cho Lạng Sơn nhiều danh lam, thắng cảnh hấp dẫn.

Các di tích, danh lam thắng cảnh tiêu biểu: Trên địa bàn thành phố Lạng Sơn có Quần thể du lịch Nhị Tam Thanh, núi Tô Thị, thành Nhà Mạc; hang động Chùa Tiên, giếng tiên; Chùa Thành (tên chữ: Diên Khánh tự); Đền Kỳ Cùng (tên chữ: Kỳ Cùng Đại Vương từ); Đền Tả Phủ (tên chữ: Tả Phủ linh từ); Đền Cửa Tây (tên chữ: Ngũ Nhạc từ); Đền cửa Đông (tên chữ: Đông Môn linh từ); Đền Bắc Lệ (tên chữ: Bắc Lệ linh từ; ở xã Tân Thành, huyện Hữu Lũng); Đền Mẫu Đồng Đăng (thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc); Đình Nông Lục (ở thôn Nông Lục, xã Hưng Vũ, huyện Bắc Sơn)... Ngoài ra, Lạng Sơn còn có nhiều di tích lịch sử, văn hóa khác như: Di tích khảo cổ, Cụm văn hóa Bắc Sơn; Di tích lịch sử Khu Chi Lăng; di tích lưu niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh; Di tích lưu niệm về đồng chí Hoàng Văn Thụ; di tích lưu niệm về đồng chí Lương Văn Tri; Cụm di tích Khởi nghĩa Bắc Sơn.

(Nguồn: Địa chí Lạng Sơn và trích số liệu từ Niên giám thống kê tỉnh Lạng Sơn năm 2017)

 

TIỀM NĂNG, LỢI THẾ CỦA TỈNH LẠNG SƠN

 

Tỉnh Lạng Sơn có đường biên giới tiếp giáp với Trung Quốc dài 231,74 km, có 2 cửa khẩu quốc tế (cửa khẩu đường bộ Hữu Nghị, đường sắt Đồng Đăng), 01 cửa khẩu chính (Chi Ma) và 9 cửa khẩu phụ. Lạng Sơn cách thủ đô Hà Nội 154 km, cách sân bay quốc tế Nội Bài 165 km, cách cảng biển Mũi Chùa - Quảng Ninh 114km. Lạng Sơn nằm ở cửa ngõ quan trọng nối Trung Quốc và các nước ASEAN, là điểm đầu tiên của Việt Nam trên 2 tuyến hành lang kinh tế: Nam Ninh (Trung Quốc) - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng (Việt Nam) và Lạng Sơn - Hà Nội - Thành phố Hồ Chí Minh - Mộc Bài (tham gia hành lang xuyên Á: Nam Ninh - Singapore). Hệ thồng đường giao thông của tỉnh Lạng Sơn khá hoàn chỉnh, bao gồm 7 đoạn tuyến quốc lộ và 2 tuyến đường sắt.

Lạng Sơn có Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn với diện tích tự nhiên 39.400 ha; Khu kinh tế được phân thành hai khu chức năng chính là khu phi thuế quan và khu thuế quan: Khu phi thuế quan được quy hoạch rộng khoảng 1.350 ha, bao gồm: Cụm thương mại dịch vụ Tân Thanh khoảng 300 ha, cụm thương mại dịch vụ khoảng 200 ha, cụm th­ương mại dịch vụ Cốc Nam khoảng 300 ha; Khu phi thuế quan giai đoạn I với tổng diện tích quy hoạch là 177 ha và được xác định là Khu sản xuất, gia công, tái chế, lắp ráp, chế biến hàng hóa xuất khẩu. Khu Chế xuất 1 diện tích quy hoạch 126,38 ha, là khu chế xuất tập trung đa ngành sản xuất, chế biến những sản phẩn để xuất khẩu, trong đó tập trung chủ yếu là các ngành công nghiệp sản xuất điện tử, công nghệ thông tin, chế biến nông lâm sản phục vụ xuất khẩu...

Lạng Sơn có lợi thế về phát triển kinh tế thương mại, với điều kiện về khu kinh tế cửa khẩu, hệ thống giao thông thuận lợi, các tuyến đường ra các cửa khẩu và hạ tầng các khu cửa khẩu được quan tâm đầu tư tương đối đồng bộ, đang tích cực đẩy nhanh tiến độ xây dựng tuyến cao tốc nối các tỉnh Hà Nội, Bắc Ninh, Bắc Giang đến cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị để tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu của cả nước. Hằng năm có trên 2700 doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân tham gia hoạt động xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu của tỉnh Lạng Sơn; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2016 đạt 4.130 triệu USD, năm 2017 đạt 5.250 triệu USD.

Bên cạnh đó, Lạng Sơn còn là mảnh đất giàu tiềm năng du lịch, bởi sự kết hợp phong phú, hài hoà giữa vị trí địa lý, thiên nhiên, lịch sử và con người. Thiên nhiên đã ban tặng cho Lạng Sơn nhiều hang động, núi rừng tự nhiên và phong cảnh đẹp với khí hậu mùa hè mát mẻ, dễ chịu, được coi là một điểm nghỉ mát, an dưỡng lý tưởng đối với các du khách từ xa như: Khu du lịch Mẫu Sơn được quy hoạch là khu du lịch quốc gia, nhiều di tích danh thắng được xếp hạng như Nhị Thanh, Tam Thanh, Thành nhà Mạc…; các điểm du lịch tâm linh như: Đền Bắc Lệ, Đến Mẫu, Đền Kỳ Cùng, Chùa Thành… Lạng Sơn là nơi nổi tiếng với nhiều địa danh lịch sử như i Mục Nam Quan, i Chi Lăng, Thành nhà Mạc đã bao lần chứng kiến các trận đánh đuổi quân xâm lược trong suốt tiến trình dựng nước và giữ nước, hay với nền văn hoá Bắc Sơn, căn cứ Cách mạng Bắc Sơn. Con người cần cù mến khách cùng với các lễ hội, truyền thống văn hoá làm cho Lạng Sơn luôn là điểm du lịch hấp dẫn đối với khách thập.

Về sản xuất nông, lâm nghiệp, với trên 80% diện tích là đồi núi, đất đai Lạng Sơn khá mầu mỡ, cùng với khí hậu tương đối thuận lợi cho phép phát triển một nền nông lâm nghiệp toàn diện. Hướng phát triển là khai thác tiềm năng, thế mạnh về kinh tế đồi rừng tạo thành các vùng sản xuất hàng hoá tập trung về cây ăn quả đặc sản (na khoảng 3.000 ha, hồng 1.500 ha, quýt 1.400 ha,…), cây công nghiệp có thế mạnh như: Hồi có 32.000 ha, thuốc lá khoảng 2.500 - 4.000 ha, thạch đen có 2.000 ha, quế có 630 ha…; cây dược liệu; cây lâm nghiệp cho nguyên liệu giấy và chế biến gỗ, nhựa thông. Toàn tỉnh có 574.336 ha đất có rừng, trong đó có 448.360 ha rừng sản xuất với 124.500 ha thông, 43.500 ha keo + bạch đàn… Lạng Sơn mong muốn và mời các nhà đầu tư quan tâm đầu tư phát triển lĩnh vực chế biến lâm sản./.