Tình hình giá cả thị trường tháng 3/2016

Thứ Năm, 14/04/2016 - 07:28

          Tháng 3/2016, thị trường hàng hóa dịch vụ đã trở lại bình thường; nguồn cung thực phẩm tươi sống, đồ uống, hàng may mặc... vẫn dồi dào trong khi nhu cầu sau Tết giảm đã khiến giá các mặt hàng này có xu hướng giảm. Từ ngày 1/3/2016 giá dịch vụ y tế cho người có thẻ Bảo hiểm y tế được điều chỉnh tăng theo lộ trình áp dụng thống nhất đối với các bện viện cùng hạng trên toàn quốc; giá dịch vụ giáo dục tại một số địa phương điều chỉnh tăng theo quy định tại Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 2/10/2015. Cụ thể diễn biến giá một số mặt hàng tiêu dùng thiết yếu trong tháng 3/2016 như sau:

image
Ảnh minh họa

          Lúa gạo: Tại miền Bắc, giá thóc, gạo tẻ thường ổn định so với tháng 02/2016. Giá thóc tẻ thường dao động phổ biến ở mức 6.000 - 7.000 đồng/kg, giá một số loại thóc chất lượng cao hơn phổ biến ở mức 8.000 - 8.500 đồng/kg; giá gạo tẻ thường dao động phổ biến ở mức 8.000 - 13.000 đồng/kg. Tại miền Nam, thị trường lúa gạo trong tháng 3/2016 diễn ra sôi động, giá lúa khô tại kho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long loại thường dao động từ 5.350 - 5.900 đồng/kg, tăng khoảng 300 - 650 đồng/kg. Giá gạo thành phẩm xuất khẩu loại 5% tấm dao động từ 7.600 - 8.200 đồng/kg, tăng khoảng 400 - 700 đồng/kg và gạo 25% tấm khoảng 6.900 - 7.500 đồng/kg, tăng khoảng 300 - 400 đồng/kg.

          Thực phẩm tươi sống: Trong tháng 3/2016, giá thực phẩm tươi sống biến động không đều giữa các mặt hàng. Giá thịt lợn hơi tăng nhẹ do nhu cầu xuất sang Trung Quốc tăng trở lại sau Tết Nguyên đán. Giá các sản phẩm thủy sản, thịt gia cầm, trứng gia cầm giảm nhẹ do nguồn cung dồi dào và nhu cầu ổn định. Riêng giá thịt bò ổn định. Giá một số loại rau củ quả sau khi tăng mạnh vào dịp Tết Nguyên đán đến nay đã giảm về mức bình thường do thời tiết thuận lợi, nguồn cung dồi dào. Cụ thể:

          Thịt lợn hơi: Tại miền Bắc, giá phổ biến khoảng 46.000 - 50.000 đồng/kg, tăng 1.000 - 3.000 đồng/kg; tại Miền Nam, giá phổ biến khoảng 42.000 - 48.000 đồng/kg, tăng 1.000 đồng/kg.

          Thịt bò thăn: Giá phổ biến khoảng 260.000 - 275.000 đồng/kg.

          Thịt gà ta làm sẵn có kiểm dịch: Giá phổ biến ở mức 110.000 - 115.000 đồng/kg, giảm 10.000 - 15.000 đồng/kg; thịt gà công nghiệp làm sẵn ở mức 50.000 - 60.000 đồng/kg, giảm 5.000 đồng/kg.

          Giá hầu hết các loại rau, củ, quả giảm so với tháng trước. Bắp cải phổ biến 15.000 - 17.000 đồng/kg, giảm 2.000 - 3.000 đồng/kg; khoai tây phổ biến 18.000 - 20.000 đồng/kg, giảm 2.000 - 5.000 đồng/kg; cà chua phổ biến 18.000 - 25.000 đồng/kg, giảm 2.000 - 5.000 đồng/kg.

          Giá một số mặt hàng thuỷ hải sản giảm: Cá chép phổ biến 70.000 - 80.000 đồng/kg, giảm 5.000 - 10.000 đồng/kg; tôm sú phổ biến 180.000 - 185.000 đồng/kg, giảm 5.000 đồng/kg; cá quả phổ biến 120.000 - 125.000 đồng/kg, giảm 5.000 đồng/kg.

          Muối: Giá muối giảm nhẹ do ảnh hưởng thời tiết tiếp tục khô hạn, lượng muối tồn chờ tiêu thụ lớn, mức giá hiện phổ biến: miền Bắc từ 1.500 - 2.500 đồng/kg; Nam Trung Bộ: muối thủ công từ 300 - 800 đồng/kg, muối công nghiệp từ 550 - 700 đồng/kg; Đồng bằng sông Cửu Long từ 300 - 1.000 đồng/kg. So với cùng kỳ năm trước, giá muối miền Bắc giảm 12%, Nam Trung Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long giảm 30 - 50%.

          Phân bón urê: Nhu cầu phân bón vẫn trong giai đoạn thấp, bên cạnh đó khô hạn và xâm nhập mặn tiếp tục ảnh hưởng (đến giữa tháng 3/2016 đã có 11 tỉnh công bố tình trạng thiên tai hạn hán và xâm ngập mặn) nên giá phân bón trong nước tiếp tục giảm nhẹ ở miền Nam và ổn định tại miền Bắc. Cụ thể: Tại miền Bắc, mức giá phổ biến khoảng 7.500 - 7.800 đồng/kg; tại miền Nam, mức giá phổ biến khoảng 7.500 - 7.700 đồng/kg, giảm 300 - 600 đồng/kg.

          Đường: Giá bán lẻ đường trên thị trường ổn định so với tháng 2/2016, dao động ở mức 17.000 - 19.000 đồng/kg.

          Thức ăn chăn nuôi: Theo Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Việt Nam, trong tháng 3 giá hầu hết các mặt hàng nguyên liệu thức ăn chăn nuôi đều giảm nhẹ từ 1,1 -7% (khô đậu tương, sắn lát, methionine) hoặc ổn định (bột cá, cám gạo ...) so với tháng trước, riêng giá ngô và lysine tăng nhẹ (2-3%). Do vậy, giá thức ăn chăn nuôi hỗn hợp giảm 1,2 - 1,7%, hiện giá thức ăn hỗn hợp cho gà thịt ở mức 9.200 đồng /kg, giá thức ăn hỗn hợp lợn thịt ở mức 8.000 đồng/kg.

          Xi măng: Theo báo cáo của Sở Tài chính các tỉnh, thành phố, giá bán lẻ xi măng tháng 3/2016 cơ bản ổn định so với tháng 02/2016; tại các tỉnh miền Bắc, miền Trung hiện phổ biến từ 1.050.000 - 1.550.000 đồng/tấn; tại các tỉnh miền Nam phổ biến từ 1.460.000 - 1.850.000 đồng/tấn.

          Thép xây dựng: Giá bán lẻ thép xây dựng tháng 3/2016 tăng từ 500 - 1.200 đồng/kg so với tháng 2/2016; cụ thể tại các tỉnh miền Bắc và miền Trung dao động phổ biến ở mức 12.600 - 15.050 đồng/kg; tại các tỉnh Miền Nam dao động phổ biến ở mức 12.700 - 15.150 đồng/kg.

          Giá LPG: Do tác động của giá CP, các doanh nghiệp trong nước điều chỉnh tăng giá bán LPG khoảng 130-182 đồng/kg, tương ứng với mức điều chỉnh tăng khoảng 1.500-2.000 đồng/bình 12kg. Cụ thể giá bán lẻ hàng hóa đến người tiêu dùng như sau: KV Hà Nội: 248.000-280.000 đồng/bình 12kg; KV TP. Hồ Chí Minh khoảng 259.000 đồng/bình 12kg.

          Xăng dầu: Tháng 3/2016, giá xăng dầu trong nước được điều hành trong 2 đợt, cụ thể: Ngày 04/3/2016 (công văn số 1851/BCT-TTTN) và ngày 21/3/2016 (Công văn số 2427/BCT-TTTN) về điều hành kinh doanh xăng dầu. Trong tháng, Liên Bộ đã điều chỉnh 2 lần mức chi sử dụng Quỹ BOG xăng dầu để đảm bảo lợi nhuận cho các doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng này trong nước; bên cạnh đó, giữ nguyên mức trích lập Quỹ BOG xăng dầu đối với các mặt hàng xăng dầu như hiện hành theo quy định tại Nghị định số 83/2014/NĐ-CP ngày 3/9/2014. Hiện giá bán lẻ xăng dầu như sau: Xăng khoáng: 14.420 đồng/lít; Xăng E5: 13.890 đồng/lít; Dầu điêzen 0,05S: 9.870 đồng/lít; Dầu hỏa: 8.900 đồng/lít;Dầu ma dút các loại: 7.220 đồng/lít

          Vàng: Trong tháng 3/2016, giá vàng trong nước biến động khá linh hoạt nhưng biên độ dao động hẹp so với giá vàng thế giới. Giá vàng trong nước dao động phổ biến dưới mức 34 triệu đồng/lượng. Mặc dù có những phiên giá vàng thế giới tăng mạnh, nhưng giá vàng trong nước đứng giá hoặc tăng nhẹ, do đó nhiều nhà đầu tư vàng trong nước thận trọng ngóng chờ chiều hướng tăng, giảm của giá vàng để ra quyết định lựa chọn mua hay bán vàng trong thời điểm đó. Thêm vào đó, biến động giá vàng chưa đủ lớn để tạo sức hấp dẫn cho hoạt động mua - bán vàng trên thị trường.

          Giá bán vàng 99,99% tại các công ty kinh doanh vàng bạc Nhà nước tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh đầu tháng dao động lần lượt ở mức 3,365-3,366 triệu đồng/chỉ, đến cuối tháng, giá vàng giảm nhẹ và dao động phổ biến ở mức 3,330-3,328 triệu đồng/chỉ, với mức giảm nhẹ lần lượt là 35.000-38.000 đồng/chỉ.

          Đô la Mỹ: Trong tháng 3/2016, tỷ giá trung tâm được điều chỉnh tăng/giảm liên tục, thời điểm cuối tháng áp dụng ở mức 21.857 đồng/USD, giảm 50 đồng so với mức áp dụng đầu tháng (21.907 đồng/USD). Việc tăng giảm của tỷ giá trên thị trường trong thời gian vừa qua là phù hợp với tình hình thị trường khi Ngân hàng Nhà nước chủ đích điều hành tỷ giá ngày càng linh hoạt, bám sát với diễn biến thị trường...

          Tại ngân hàng thương mại, tỷ giá Đôla Mỹ đầu tháng được niêm yết ở mức mua vào/ bán ra là: 22.265-22.335 đồng/USD, đến cuối tháng, tỷ giá có xu hướng giảm nhẹ xuống mức 22.255-22.325 đồng/USD, với cùng mức giảm ở hai chiều mua vào/bán ra là 10 đồng/USD.

          Tỷ giá hạch toán giữa Đồng Việt Nam với Đôla Mỹ tháng 4/2016 được Bộ Tài chính công bố áp dụng cho các nghiệp vụ quy đổi và hạch toán thu, chi ngân sách Nhà nước bằng ngoại tệ; quy đổi và hạch toán sổ sách kế toán của Kho bạc Nhà nước là 1USD = 21.874 đồng, giảm 10 đồng so với tháng trước.

          Dự báo tháng 4/2016: Trong tháng 4/2016, một số yếu tố dự kiến có thể gây áp lực lên mặt bằng giá như nhu cầu một số hàng hoá, dịch vụ (giao thông công cộng, du lịch, may mặc...) có thể tăng do yếu tố mùa vụ (thời tiết chuyển mùa nóng tại miền Bắc, kỳ nghỉ lễ dài dịp Giỗ tổ Hùng Vương mùng 10/3 Âm lịch và 30/4-1/5 Dương lịch); thời tiết khô hạn và tình hình xâm nhập mặn tiếp tục ảnh hưởng tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long; giá một số nhiên liệu, chất đốt (xăng dầu, LPG...) trong nước có thể tăng theo xu hướng tăng của giá thế giới;... Tuy nhiên, do nguồn cung đa số các hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng trên thị trường trong nước khá dồi dào; việc tiếp tục tăng cường công tác quản lý giá, điều hành, bình ổn giá của các Bộ, ngành, địa phương sẽ góp phần giữ cho giá cả thị trường không xảy ra những biến động đột biến trong tháng tới. Dự báo chỉ số giá tiêu dùng tháng 4/2016 tăng nhẹ so với tháng 3/2016./.

                                                                                          Nguồn: qlg.mof.gov.vn

BẢN ĐỒ TỈNH LẠNG SƠN

LIÊN KẾT WEBSITES
THỐNG KÊ LƯỢT TRUY CẬP

web stats

HỖ TRỢ KỸ THUẬT TRỰC TUYẾN

0253.818.657              0918210111

Liên hệ qua Yahoo Messenger Liên hệ qua Yahoo Messenger

CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH LẠNG SƠN

Giấy phép số: 20/GP-TTĐT ngày 12/3/2015 của Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử

Cơ quan thường trực: Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn

Chịu trách nhiệm chính: Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh

Trụ sở: Đường Hùng Vương, phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn.

Điện thoại: (025) 3.812.959; Fax: (025) 3.814.302 Email: ubndls@langson.gov.vn

Ghi rõ nguồn “Cổng TTĐT tỉnh Lạng Sơn” hoặc “www.langson.gov.vn” khi đăng tải lại thông tin từ Cổng TTĐT tỉnh Lạng Sơn